Thông cáo báo chí
Các đơn vị sản xuất xi măng
 
TIỆN ÍCH
# Email # Hướng dẫn sử dụng
# Hỏi đáp # Ites
# Văn bản pháp quy Liên hệ
Tư liệu phim
 
Xem tiếp »
Tư liệu ảnh
  • #
  • #
  • #
  • #
 
Xem tiếp »
 
Một số ý kiến nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống kinh doanh thương mại xi măng thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam

Qua hơn 10 năm chuyển đổi nền kinh tế, đến nay Việt nam đã tạo được nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát huy quyền độc lập tự chủ trong hoạt động kinh doanh, để thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao hiệu quả trên nhiều lĩnh vực, kể cả hiệu quả kinh tế lẫn lợi ích xã hội.

Tuy nhiên trong nền kinh tế nhiều thành phần, cạnh tranh vừa là động lực vừa là trở ngại buộc các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện mọi mặt; trong đó việc hoàn thiện hệ thống cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động kinh doanh để nâng cao khả năng cạnh tranh mới có thể tồn tại và phát triển là nhiệm vụ cấp bách.
Cùng chung trong bối cảnh đó, hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý công tác tiêu thụ sản phẩm của Tổng công ty (TCT) Xi măng Việt nam cũng luôn được quan tâm củng cố để từng bước hoàn thiện.

Trong phạm vi bài báo này chúng tôi muốn bàn đến hướng hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý công tác tiêu thụ sản phẩm của TCT, ở đây đề cập ba vấn đề chính là:

- Tình hình tiêu thụ xi măng năm 2003 và 7 tháng đầu năm 2004 để thấy rõ những biến động của thị trường trong thời gian qua. 
- Mô tả thực trạng hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý công tác tiêu thụ sản phẩm của TCT, chỉ ra những ưu nhược điểm và nguyên nhân của nó.
- Tham gia những giải pháp cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý công tác tiêu thụ sản phẩm của TCT.

I- Tình hình tiêu thụ xi măng năm 2003 và 7 tháng đầu năm 2004

Trong những năm gần đây ngành công nghiệp Xi măng luôn phát triển với tốc độ cao. Riêng năm 2003, toàn xã hội đã tiêu thụ hết 24,45 triệu tấn, tăng 15% so với năm 2002, trong đó xi măng của Tổng công ty tiêu thụ 10,98 triệu tấn, tăng 17% và chiếm 44,9% thị phần cả nước. Nếu chia ra thị trường các khu vực, năm 2003 có mức tăng trưởng về nhu cầu tiêu thụ xi măng rất khác nhau:

- Thị trường các tỉnh phía Bắc (từ Quảng bình trở ra) tiêu thụ hết 12 triệu tấn, tăng 25,2% so với mức tiêu thụ năm 2002; trong đó sản phẩm của TCT tiêu thụ trên 6,2 triệu tấn, tăng 23,6%; chiếm 51,8% thị phần miền Bắc.
- Thị trường các tỉnh miền Trung (gồm các tỉnh từ Ninh thuận trở ra đến Quảng trị) tiêu thụ trên 4 triệu tấn, tăng 20,37% so với năm 2002; trong đó xi măng của TCT tiêu thụ trên 1,7 triệu tấn, tăng 20,8% chiếm 42,2% thị phần miền Trung.
- Thị trường các tỉnh miền Nam tiêu thụ trên 8,33 triệu tấn, tăng 18% so với năm 2002; trong đó xi măng của TCT tiêu thụ gần 3 triệu tấn, tăng 4,3% chiếm 35,96% thị phần miền Nam.

Bẩy tháng đầu năm 2004 mức xi măng tiêu thụ trên thị trường toàn quốc đạt trên 14,3 triệu tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ 2003, trong đó TCT tiêu thụ gần 6,5 triệu tấn, tăng 4,8% chiếm trên 45% thị phần cả nước. Nếu phân chia theo thị trường các khu vực, 7 tháng đầu năm 2004, sẽ thấy sự biến động cũng rất khác nhau.

- Thị trường miền Bắc tiêu thụ trên 7,2 triệu tấn tăng 11,2% so với cùng kỳ 2003 (chiếm 50,3% sản lượng tiêu thụ toàn quốc); trong đó sản phẩm của TCT tiêu thụ trên 3,7 triệu tấn, tăng 10,3% và chiếm trên 51,2% thị phần miền Bắc.
- Thị trường miền Trung tiêu thụ trên 2 triệu tấn, giảm 6,5% so với cùng kỳ 2003 (chiếm gần 14% sản lượng tiêu thụ toàn quốc); trong đó sản phẩm của TCT tiêu thụ trên 1 triệu tấn giảm 2,3%, chiếm trên 45,35% thị phần miền Trung. Cùng lúc đó XM Liên doanh giảm 16,8%, XM địa phương giảm 2,8%.
- Thị trường khu vực miền Nam tiêu thụ trên 4,8 triệu tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm 2003 (chiếm gần 34% sản lượng tiêu thụ toàn quốc); trong đó sản phẩm của TCT tiêu thụ trên 1,7 triệu tấn, giảm 1,6% và chiếm trên 35,7% thị phần các tỉnh phía Nam. Trong khi đó sản lượng tiêu thụ của các Liên doanh tăng 8,2%, các địa phương giảm 4,1%. 

Tình hình trên cho thấy, trong phạm vi toàn quốc tốc độ tiêu dùng xi măng tăng trưởng không đều, nhất là ở 7 tháng đầu năm 2004, tập trung tăng nhiều ở các tỉnh phía Bắc, miền Nam tăng chậm hơn, các tỉnh miền Trung lại giảm so với 7 tháng đầu năm 2003. Có nhiều nguyên nhân tác động đến hiện tượng biến đổi không đều của thị trường xi măng các khu vực, nhưng theo chúng tôi chủ yếu tập trung ở những nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Thủ tục đầu tư tuy đã được Nhà nước giao quyền cho các địa phương và cơ sở, nhưng việc thực hiện của các cấp vẫn chưa nhanh, chưa mạnh dạn quyết đoán, sợ vi phạm chính sách, làm cho thủ tục quyết định đầu tư chậm chạp.
- Các dự án đã được quyết định đầu tư thì tiến độ giải ngân chậm chạp.
- Hầu hết giá bán các loại vật liệu xây dựng khác và cước phí vận tải đều tăng cao, làm tăng khối lượng vốn đầu tư của các công trình, đã dãn tiến độ thi công nhiều công trình, làm chậm tốc độ tiêu thụ xi măng trên thị trường.
 - Chính sách quản lý đất đai, quản lý quy hoạch xây dựng ở các thành phố lớn ngày càng chặt chẽ, đã làm giảm tốc độ đầu tư và giảm tốc độ xây dựng đân dụng, dẫn đến hạn chế nhu cầu tiêu dùng xi măng.
 - Những tháng đầu năm chỉ số giá tiêu dùng nội địa tăng cao làm giảm giá trị đồng nội tệ, ảnh hưởng không nhỏ đến tốc độ đầu tư của xã hội.v.v...

Trong thời gian qua, thị phần của TCT có xu hướng tăng ở các tỉnh phía Bắc, nhưng lại bị giảm ở các tỉnh phía Nam, điều này phản ánh sản phẩm của TCT đang phù hợp với nhu cầu tiêu dùng phía Bắc, khả năng cạnh tranh của nó đang yếu đi ở thị trường các tỉnh phía Nam. Trên thực tế dung lượng của thị trường các khu vực trong phạm vi toàn quốc đều tăng, nhưng trong phạm vi cục bộ có hiện tượng sản phẩm của TCT  bị sản phẩm của các liên doanh đẩy lùi từng phần. Chúng tôi cho rằng, đây là tín hiệu mới, báo hiệu một thời kỳ cạnh tranh mới, do sự phát triển của nền kinh tế xã hội đã sang một giai đoạn mới cao hơn có sự biến đổi về chất rất cơ bản; như vậy TCT cần phải có những quyết sách mới phù hợp hơn với sự phát triển của nhu cầu thị trường đòi hỏi.

Tuy vậy, với tốc độ tăng nhu cầu tiêu dùng xi măng của toàn xã hội trên đây để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà máy sản xuất xi măng tận dụng tối đa công suất đã có trên cơ sở đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên, nó đã đẩy TCT tới tình thế căng thẳng trong việc thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường trong phạm vi cả nước.

Mấy năm gần đây, mặc dù giá vật tư đầu vào liên tục tăng, như giá điện, giá than, giá xăng dầu, chi phí vận tải..., đồng thời chỉ số giá cả các loại hàng hóa trong thị trường nội địa đều tăng; nhưng TCT Xi măng Việt nam vẫn không thay đổi giá bán sản phẩm. Để thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường, có thể nói những năm qua TCT đã cố gắng tiến hành hàng loạt các biện pháp nhằm giảm chi phí sản xuất trên cơ sở cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật, kéo dài thời gian hoạt động có ích của máy móc thiết bị, rút ngắn thời gian sửa chữa các thiết bị chính, giảm chi phí bán hàng, thậm chí phải giảm đến mức tối thiểu chi phí khấu hao... nhằm giảm giá thành sản phẩm, để các công ty thành viên hoàn thành kế hoạch lợi nhuận được giao.

II- Thực trạng hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý TT sản phẩm của TCT

1- Hệ thống tổ chức và phương thức tiêu thụ sản phẩm:

Tổng công ty Xi măng Việt nam là một doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được Nhà nước giao nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường xi măng trong phạm vi cả nước. Những năm gần đây TCT đã làm tốt vai trò là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô ngành công nghiệp Xi măng Việt nam. Hiện tại TCT có 11 đơn vị thành viên làm nhiệm vụ sản xuất và kinh doanh tiêu thụ sản phẩm xi măng, trong đó có 8 đơn vị sản xuất xi măng và 3 đơn vị kinh doanh thương mại làm nhiệm vụ tiêu thụ sản phẩm. Việc tiêu thụ sản phẩm của các đơn vị thành viên được tiến hành theo các hình thức:

- Thông qua các Công ty kinh doanh thương mại thuộc TCT.
- Thông qua các Nhà phân phối (NPP).
- Tiêu thụ qua các chi nhánh của Công ty tại các tỉnh.

Như vậy, việc tổ chức tiêu thụ sản phẩm xi măng của TCT được chia làm hai hệ thống, gồm hệ thống trực thuộc TCT và hệ thống các Nhà phân phối, không phải là thành viên của TCT.

Hệ thống trực thuộc TCT: Đây là hệ thống các đơn vị thành viên tự tiêu thụ sản phẩm của mình và tiêu thụ thông qua ba Công ty kinh doanh thương mại thuộc TCT. Hiện nay hệ thống này có 37 chi nhánh tại các tỉnh, có 5 trung tâm tiêu thụ xi măng, ngoài ra còn có xí nghiệp và một số trung tâm khác. Lực lượng lao động trong hệ thống này có khoảng 1.100 người, có khoảng 630 cửa hàng bán lẻ xi măng, trong đó có 240 cửa hàng của các đơn vị thành viên và 390 cửa hàng của các đại lý. Những cửa hàng này do các chi nhánh, hoặc các trung tâm tiêu thụ trực tiếp quản lý. Diện tích kho chứa của hệ thống này có  khoảng 35.000 m2, ngoài ra còn thuê khoảng 41.000 m2 khác làm kho chứa xi măng.

Hệ thống các Nhà phân phối: Hiện nay hệ thống các NPP đã lên tới 67 chủ thể, tiêu thụ sản phẩm cho ba đơn vị thành viên của TCT (Công ty Xi măng Hà tiên 1 có 24 NPP, Công ty Xi măng Hoàng mai có 33 NPP và Công ty Xi măng Hải vân có10 NPP).
Tình hình tiêu thụ qua các năm cho thấy lượng xi măng tiêu thụ qua các kênh như sau:

- Tiêu thụ qua cửa hàng bán lẻ chiếm 30%.
- Tiêu thụ qua cửa hàng các đại lý chiếm 40%.
- Tiêu thụ qua các NPP chiếm 27%.
- Tiêu thụ qua các ga, cảng chiếm 3%.

Trong quá trình hoạt động, hai hệ thống tiêu thụ sản phẩm xi măng nói trên đã bộc lộ những ưu nhược điểm riêng có của chúng:

* Phương thức tiêu thụ sản phẩm xi măng qua hệ thống trực thuộc TCT luôn đảm bảo được lợi ích chung của xã hội, đảm bảo được việc làm cho người lao động, nhất là lực lượng lao động do cơ chế cũ trước đây để lại. Tất cả các kênh bán hàng theo hệ thống này đều nằm trong vòng cương tỏa của TCT, nó phải thực hiện đúng những quy định của TCT về chính sách giá bán, chính sách khuyến mại, mức độ dự trữ hàng hóa để cân đối cung-cầu trên thị trường. Hệ thống này đã thực sự trở thành công cụ để TCT thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường xi măng trong phạm vi cả nước; phương thức tiêu thụ này để bảo vệ rất tốt lợi ích người tiêu dùng.
Nhược điểm của phương thức này là phát sinh quá nhiều đầu mối, có nhiều mối quan hệ chồng chéo, bộ máy tổ chức cồng kềnh, chi phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất rất lớn, chi phí lưu thông tiêu thụ cao, gây ra sự cạnh tranh nội bộ, làm giảm khả năng cạnh tranh của toàn TCT. Nhược điểm lớn nhất của phương thức này còn thể hiện ở chỗ lợi ích vật chất của các công ty sản xuất xi măng bị hạn chế do việc hình thành giá cả thị trường không xuất phát từ quan hệ cung-cầu, mà thường xuất phát từ biện pháp hành chính, đã làm giảm lợi nhuận của người sản xuất. Lượng dự trữ hàng hóa tăng cao mỗi khi cầu lớn hơn cung đã làm cho vốn bị ứ đọng nhiều, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn lưu động... gây thiệt hại cho người sản xuất hạn chế rất nhiều khả năng cạnh tranh của toàn TCT.

* Hệ thống tiêu thụ qua các Nhà phân phối đã tạo được điều kiện thuận lợi cho việc xã hội hóa quá trình tiêu thụ sản phẩm, nó phù hợp với quy mô sản xuất lớn đại công nghiệp; người sản xuất không phải đầu tư nhiều vốn cho việc xây dựng cơ sở vật chất hệ thống cửa hàng, kho tàng... của khâu tiêu thụ. Tiêu thụ qua hệ thống này làm giảm nhiều chi phí của quá trình tiêu thụ sản phẩm; giảm bớt được rất nhiều đầu mối, giảm bớt được nhiều mối quan hệ giữa công ty sản xuất xi măng với các khách hàng; tạo được điều kiện tốt để ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình kinh doanh Thương mại. Mặt khác, có khả năng huy động các NPP hoạt động có hiệu quả nhất trong công việc tìm kiếm và khai thác thị trường. Chính vì vậy, mà phương thức này mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao khả năng cạnh tranh cho các công ty sản xuất xi măng.
Tuy nhiên, hệ thống này không nằm trong vòng cương tỏa của TCT cho nên đã bộc lộ những hạn chế không nhỏ, khi hoạt động nó tạo ra những trở ngại nhất định cho việc thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường xi măng Nhà nước giao cho TCT. Các NPP luôn có ý thức tìm kiếm lợi nhuận tối đa, vì vậy việc hình thành giá cả ở giai đoạn từ NPP đến người tiêu dùng cuối cùng TCT khó có thể kiểm soát được, nhất là vào những lúc nhu cầu thị trường tăng cao.

* Trong thời gian vừa qua việc hiện đại hóa quá trình tiêu thụ sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh ở nhiều công ty thành viên chưa được quan tâm đúng mức, việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ thông tin trong kinh doanh thương mại mới chỉ có Công ty Xi măng Hà tiên 1 thực hiện trong việc quản lý bán hàng. Đây là một trong nhiều biểu hiện tụt hậu rõ nhất của việc nâng cao trình độ quản lý kinh doanh để hội nhập.

2- Các chính sách quản lý và khuyến khích tiêu thụ xi măng đang được TCT áp dụng:

Về chính sách giá cả: Như trên đây đã đề cập, chi phí đầu vào cho sản xuất xi măng những năm gần đây luôn có xu hướng tăng cao, đã có tác động lớn đến giá thành sản phẩm của các đơn vị thành viên. Tuy thế TCT vẫn cố gắng thực hiện tốt nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường, không tăng giá bán xi măng để bảo vệ lợi ích chung của xã hội và quyền lợi người tiêu dùng. Tổng công ty quy định giá luân chuyển nội bộ giữa các đơn vị sản xuất xi măng và các công ty kinh doanh thương mại của mình; đồng thời quy định khung giá bán các loại xi măng tại các nhà máy và tại các tỉnh; TCT ủy quyền cho Giám đốc các công ty thành viên quy định mức giá cụ thể phù hợp với tình hình thị trường, nhưng mức giá đó phải nằm trong khung giá TCT quy định.

Chính sách giá cả nói trên đã giữ được vai trò của TCT trong việc quản lý, điều tiết và bình ổn thị trường, đồng thời làm tăng tính chủ động của các đơn vị thành viên khi quyết định các mức giá phù hợp với từng khu vực thị trường ở từng thời điểm khác nhau. Tuy nhiên, các khung giá nói trên đã trở nên lạc hậu, thiếu tính tích cực, không còn phù hợp với quy luật của thị trường. Để bảo vệ quyền lợi của mình, giữa các tổ chức tiêu thụ đã phát sinh hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động thương mại, nhất là ở hệ thống các NPP không do TCT quản lý.

Về chính sách khuyến mại: TCT chỉ quy định giá trị mức khuyến mại tối đa, hoặc bình quân theo các hình thức phù hợp với quy định của Nhà nước cho từng khoảng thời gian và từng khu vực thị trường. Uỷ quyền cho cho Giám đốc các công ty thành viên quy định mức khuyến mại cụ thể.

Nhìn chung các công ty thành viên đều thực hiện khuyến mại đúng theo quy định của TCT. Tuy nhiên, hình thức thực hiện khuyến mại còn đơn điệu, phần lớn đều thực hiện khuyến mại bằng xi măng, cá biệt có đơn vị thực hiện sai hình thức khuyến mại. Thời gian thực hiện khuyến mại thường kéo dài cả năm, do đó thực chất của khuyến mại đã trở thành hiện tượng giảm giá bán, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình tài chính của toàn TCT và không phát huy được tác dụng của công cụ khuyến mại.

Về chính sách quảng cáo tiếp thị, TCT có chủ trương giành quyền chủ động cho các công ty thành viên thực hiện các chính sách xúc tiến thương mại của mình. Nhưng trong quá trình thực hiện nhiều đơn vị, nhất là những đơn vị chuẩn bị hoặc mới tham gia thị trường thường ít quan tâm hoặc không nhận thức được tầm quan trọng của công tác này trong việc quảng bá sản phẩm của mình để chiếm lĩnh thị trường, không biết tận dụng ưu thế của các phương tiện thông tin đại chúng để thực hiện chính sách xúc tiến thương mại để nâng cao khả năng cạnh tranh.

Hằng năm TCT có tham gia các lần hội chợ, triểm lãm hàng công nghiệp Việt nam, hoặc triển lãm ngành Xây dựng, chi phí cho các cuộc hội chợ, triển lãm khá cao nhưng chưa có tác dụng nhiều cho việc thúc đẩy kinh doanh thương mại, chưa có các hợp đồng thương mại ký được từ các cuộc hội chợ, triển lãm.v.v...

III - Những ý kiến tham gia

Từ những nhận thức thực tế trên đây, chúng tôi muốn tham gia một số ý kiến, hy vọng từng bước hoàn thiện, thúc đẩy nhanh công tác xúc tiến thương mại nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong tiến trình hội nhập hiện nay của TCT.
  
Trước hết, TCT cần đẩy nhanh việc xây dựng và quảng bá thương hiệu của mình, đồng thời khẩn trương thống nhất nhãn hiệu hàng hóa mới có thể tập trung mọi khả năng cạnh tranh, giảm thiểu cạnh tranh nội bộ, phân tán những rủi ro trong kinh doanh thương mại khi hội nhập. Vấn đề này đã được TCT quan tâm, bàn bạc nhiều lần, nhưng chưa khẩn trương, chưa tạo được bước đột biến tích cực.

Thứ hai:
việc hoàn thiện hệ thống tổ chức mạng lưới và lựa chọn hình thức tiêu thụ sản phẩm: Trong khoảng 5 đến 10 năm nữa, nền kinh tế Việt nam vẫn còn phát triển ở tốc độ cao, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của xã hội vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập quốc dân. Đồng thời, trong những năm tới TCT Xi măng vẫn còn giữ vai trò chủ yếu trong ngành công nghiệp Xi măng Việt nam, mặc dù có nhà máy được cổ phần hóa, xi măng các địa phương phát triển, nhiều công ty Liên doanh trong và ngoài nước tham gia thương trường. Việc bình ổn giá cả thị trường chắc chắn Nhà nước vẫn giao cho TCT đảm nhiệm. Nếu như vậy, việc duy trì hệ thống tổ chức tự tiêu thụ sản phẩm trực thuộc TCT vẫn còn cần thiết, làm công cụ để TCT bình ổn giá cả thị trường; tuy nhiên việc củng cố lại hệ thống này cần phải được xúc tiến nhanh, tận dụng tốt những ưu điểm vốn có của nó để đạt hiệu quả cao. Trong chương trình đổi mới doanh nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt sẽ tiến hành cổ phần hóa một số công ty thành viên trong đó có các công ty kinh doanh thương mại của TCT. Mối qua hệ giữa các công ty sản xuất và các công ty thương mại thành viên thực chất từ lâu đã là mối quan hệ giữa người sản xuất và Nhà phân phối. Đây là nhân tố thuận lợi để TCT hoàn thiện hệ thống tổ chúc và cơ chế quản lý hệ thống tiêu thụ sản phẩm của mình. Trong tương lai, TCT không nên mở rộng quy mô và hình thức tổ chức của phương thức tự tiêu thụ này.

Đối với hệ thống tiêu thụ nằm ngoài TCT (hệ thống các NPP) cần được tăng cường mở rộng để phù hợp với chủ trương xã hội hóa quá trình tiêu thụ sản phẩm của TCT và phù hợp với quy luật của nền sản xuất lớn, đại công nghiệp, tận dụng những tác dụng tích cực của nó để nâng cao khả năng cạnh tranh. Như vậy, đối với những đơn vị mới tham gia thị trường, hoặc những đơn vị muốn mở rộng thị trường nên sử dụng phương thức tiêu thụ sản phẩm thông qua NPP; sẽ có những công ty thành viên sử dụng xen kẽ cả hai hình thức tổ chức tiêu thụ sản phẩm nói trên. Nếu tổ chức tốt, có quy chế quản lý điều hành chặt chẽ hai hệ thống này có tác dụng bổ trợ lẫn nhau, phát huy được ưu điểm riêng của từng phương thức và hạn chế được nhược điểm vốn có của nó.

Thứ ba:
Một trong những yêu cầu nâng cao khả năng cạnh tranh để hội nhập là việc hiện đại hóa quá trình tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, TCT cần nhanh chóng ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình bán hàng, cần có chính sách khuyến khích, có thể thúc ép các đơn vị thành viên khẩn trương thực hiện chương trình này. Đây là một trong những giải pháp rút ngắn cự ly tụt hậu đã nói ở trên so với các tập đoàn kinh tế trong khu vực.

Thứ tư:
Về chính sách giá cả, chúng tôi cho rằng, cần hiểu việc thực hiện nhiệm vụ "Bình ổn giá cả thị trường xi măng" phải dựa trên quan điểm động; nghĩa là việc ban hành chính sách giá bán xi măng phải được căn cứ vào tổng thể các mối quan hệ kinh tế-xã hội trong nước, trong khu vực và trên thế giới. Lâu nay giá cả các yếu tố đầu vào (kể cả các yếu tố nội địa lẫn yếu tố nhập khẩu) đều đã tăng cao, chỉ số giá cả hàng tiêu dùng đã tăng tới 8,3%, nhu cầu các mặt hàng trong dân cư đều tăng cao chứng tỏ thu nhập trong các khu vực dân cư đã tăng. Bên cạnh đó giá cả các mặt hàng vật liệu xây dựng tương ứng khác, giá phân bón, nông sản.v.v... cũng đã tăng; nhưng giá xi măng nhiều năm nay vẫn không thay đổi, nếu xét trong trạng thái động thì giá xi măng đang giảm dần. Rõ ràng, không nên hiểu việc thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường xi măng ở trạng thái tĩnh mang tính cực đoan; thực chất việc kìm giá trong môi trường kinh tế - xã hội biến động nói trên chỉ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng trực tiếp mua xi măng và lợi ích của các NPP; nhìn từ khía cạnh kinh tế thì Nhà nước và người sản xuất đang chịu thiệt. Tình hình thực tế trên đây đang diễn ra sẽ trái với quy luật của cơ chế kinh tế thị trường, không khuyến khích được việc đẩy nhanh tốc độ đầu tư thúc đẩy ngành công nghiệp Xi măng phát triển.

Vì vậy chúng tôi cho rằng, TCT cần thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá cả thị trường bằng các giải pháp tích cực, trên quan điểm động mang tính biện chứng, phù hợp với sự hoạt động của các quy luật khách quan. 

Thứ năm:
Đối với chương trình quảng cáo và khuyến mại, như đã lưu ý trên đây, TCT đã giành cho các công ty thành viên quyền chủ động trong khuôn khổ pháp luật cho phép, sử dụng các phương tiện thông tin cho việc quảng cáo. Các đơn vị thành viên cần đổi mới trong nhận thức, coi việc quảng cáo là một trong những công cụ quan trọng giúp mình thâm nhập thị trường nhanh nhất, cần chủ động sử dụng các phương tiện thông tin như một lợi thế cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh.
  
Theo chúng tôi, TCT và các đơn vị thành viên cần đa dạng hóa hình thức khuyến mại trong khuôn khổ Nghị định 32 quy định, đưa vai trò khuyến mại về đúng tác dụng đích thực của nó, tránh hiện tượng biến khuyến mại thành hình thức giảm giá, làm sai lệch bản chất tình hình tài chính của các đơn vị thành viên và của toàn TCT./.
Nguồn: TS Bùi Anh Thi


  • Gửi mail cho bạn bè
  •     
  • In trang này ra giấy
  •     
  • Đưa ra file pdf
  •     
Các tin khác: