Thông cáo báo chí
Các đơn vị sản xuất xi măng
 
TIỆN ÍCH
# Email # Hướng dẫn sử dụng
# Hỏi đáp # Ites
# Văn bản pháp quy Liên hệ
Tư liệu phim
 
Xem tiếp »
Tư liệu ảnh
  • #
  • #
  • #
  • #
 
Xem tiếp »
 
Thị trường Xi măng những tháng cuối của năm 2004

Chúng ta đang chứng kiến sự sôi động của thị trường - giá cả một số vật tư hàng hoá thiết yếu liên quan đến sản xuất, đời sống: chỉ số giá hàng tiêu dùng tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm hàng hoá có tốc độ tăng cao nhất là lương thực, thực phẩm 11,5% (gấp đôi chỉ số chung).

Các mặt hàng khác như thuốc chữa bệnh, sắt thép, xăng dầu, phân bón cùng tăng ở mức khá cao. Giá một số mặt hàng còn lại hoặc tăng ở mức thấp hơn hoặc không tăng. Trái lại một số ít mặt hàng, mặc dù chịu tác động của sự tăng giá đầu vào như than, điện, cước vận tải, xăng dầu nguyên liệu nhập khẩu... nhưng vẫn giữ được ổn định về giá cả và thị trường không phải trong một năm mà đ• giữ trong nhiều năm qua, xi măng là một trong không nhiều mặt hàng như vậy.

Thị trường xi  măng những tháng qua
Vào đầu năm 2004 sau khi đánh giá tình hình 2003, dự báo kế hoạch 2004 Tổng công ty Xi măng Việt Nam đã chủ động dự trữ lượng vật tư, hàng hoá với sản lượng bằng 50% lượng sản xuất trong quý, bao gồm cả nguyên liệu (clinker), bán thành phẩm (xi măng bột) và thành phẩm (xi măng bao), tương ứng mức vốn lưu động khoảng 100 tỷ đồng. Nâng cao chất lượng và chủ động sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện sản xuất, hoạt động ổn định có năng suất cao làm ra nhiều sản phẩm, cùng với sản phẩm dự trữ, tạo ra một lượng hàng hoá luôn luôn có mặt trên thị trường. Nâng cao chất lượng công tác dự báo, đánh giá nhu cầu thị trường trong và ngoài nước để chủ động nhập khẩu dần một lượng clinker theo kế hoạch đề ra. Sản lượng xi  măng sản xuất trong nước (cung) đáp ứng tiêu dùng (cầu), chiếm đại bộ phận lượng hàng hoá trên thị trường. Các dự án đầu tư xây dựng nhà máy xi  măng của Tổng công ty trong các năm gần đây đều có công suất lớn, kỹ thuật hiện đại, sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao, giá cả sản phẩm luôn luôn tương xứng với các nước trong khu vực...

Các đặc điểm trên vừa là đặc thù riêng của xi  măng, nhưng đồng thời cũng là cơ sở có tác động rất lớn đến kết quả, bài học quản lý, điều hành thị trường xi  măng trong thời gian qua.
Bài học của việc quản lý điều hành thị trường xi  măng thời gian qua là:

Trước hết
, chủ động tạo ra một lượng hàng hoá đủ lớn, chiếm phần lớn với mức ít nhất bằng khoảng 80% so với dự báo nhu cầu trong cả năm. Điều này rất quan trọng nó chi phối cả về giá cả, nguồn và các giải pháp điều hành. Và nếu chỉ số này chỉ có ở mức thấp (nhỏ hơn hoặc bằng 50%) thì khả năng điều tiết thị trường rất khó khăn, luôn luôn trong trạng thái lúng túng, bị động. Qua đó thấy vai trò sản xuất trong nước là nhân tố hết sức quan trọng, là nguyên nhân bên trong quyết định sự bền vững, bình đẳng, phát triển của nền kinh tế. Số lượng còn lại (khoảng 20%), có thể phải nhập khẩu với giá cao thì cũng không ảnh hưởng nhiều đến vấn đề cân đối cung cầu. Việc "sốt" giá, thị trường trong quý I/2004 vừa qua của các mặt hàng như xăng, dầu phải nhập: 100%; phân URE 90%; sắt, thép 80%; nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh và phần lớn thuốc chữa bệnh nhập 100%,... là bài học quá lớn (khi vật tư hàng hoá phải phụ thuộc vào nước ngoài) cho công tác quản lý, điều hành vĩ mô và vi mô.

Thứ hai là, có lượng xi  măng dự trữ 50% sản lượng  mùa xây dựng (một năm tạm chia hai mùa, mỗi mùa khoảng 3 tháng). Khái niệm mùa nêu ở đây chỉ có ý nghĩa tương đối, tổng kết từ thực tiễn, căn cứ vào mùa mưa, khô ở ba miền Trung - Nam - Bắc, căn cứ tính hoá lý của xi  măng, thời tiết khí hậu tác động đến sản xuất, xây dựng, bảo quản vận chuyển... 

Thứ ba là, chất lượng xi  măng phải ổn định, giá cả phù hợp thị trường trong nước và tương xứng với khu vực và quốc tế. Đây là bài học hết sức quan trọng. Nó quan trọng không chỉ đối với từng người tiêu dùng, từng nhà sản xuất, mà góp phần ổn định thị trường. 

Trong những năm gần đây khi ta thực hiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các hàng rào thuế quan, và phi thuế quan đã bãi bỏ, hàng hoá bạn  tràn vào, nếu xi  măng của ta chất lượng kém, giá cả cao chắc chắn sẽ là cơ hội cho xi  măng bạn thắng thế. Trong vài năm trở lại đây, nhu cầu trong cả nước thiếu từ ba đến bốn triệu tấn xi  măng/mỗi năm. Số lượng thiếu hụt này, nước ta nhập nguyên liệu clinker về nghiền ra xi  măng, chứ không nhập xi  măng và trên thực tế khi thị trường xi  măng mở cửa tự do đã được vài năm nhưng chưa thấy tấn xi  măng nào của bạn có bán trên thị trường Việt Nam. Điều đó càng chứng tỏ chất lượng và giá cả xi  măng của ta luôn luôn ở thế ổn định, chứng tỏ chủ trương đầu tư của ngành xi  măng đúng hướng, từ khâu chọn thiết bị công nghệ, đặt công suất cao, tổ chức vận hành, quản lý cung ứng sản phẩm ra thị trường đều có sự tính toán, cân nhắc chặt chẽ, từng bước có hướng đi vừa tiếp cận, vừa đón đầu để ngang tầm với bạn.
 Còn về giá xi  măng tại sao trong vòng năm, sáu năm trở lại đây luôn luôn trong trạng thái ổn định ?  Vẫn biết rằng xi  măng, cũng như các hàng tư liệu sản xuất khác là sản phẩm cấu thành bởi nhiều vật tư hàng hoá trong quá trình khai thác, chế biến. Trong đó phải kể đến một số vật tư đầu vào chủ yếu như than, điện, xăng dầu, cước vận tải,... ở trong nước và ngoài nước. Trong nhiều năm qua, giá các mặt hàng luôn luôn biến đổi theo chiều hướng tăng, có mặt hàng tăng bốn lần trong một năm, vậy tại sao giá xi  măng vẫn ổn định?

Để trả lời câu hỏi này, xin nêu một số nguyên nhân sau:  Áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, mạnh dạn chuyển đổi ngay từ khâu thiết kế ban đầu các dự án: thay đốt dầu bằng đốt than, giá dầu đắt gấp từ 3 đến 4 lần giá than, nguồn than trong nước luôn luôn sẵn;  Nâng cao chất lượng nung clinker trên cơ sở  bảo đảm mác xi  măng ổn định để tăng tỷ lệ pha phụ gia giảm giá thành sản phẩm;  Dùng chất trợ nghiền để tăng năng suất máy nghiền xi  măng; Chọn lựa vật tư có chất lượng cao, tổ chức đấu thầu cung cấp. Hai khâu này vừa giảm định mức  tiêu hao vật chất và giảm giá trị trên một tấn xi  măng; Tăng năng suất lao động tạo ra sản lượng lớn, tạo điều kiện giảm các chi phí biến đổi tính trên đơn vị sản phẩm; Cải tiến, hoàn thiện cơ chế bán hàng, giảm chi phí lưu thông.v.v. Tất cả các yếu tố này là những véc tơ biến đổi ngược chiều với các yếu tố tăng từ giá cả vật tư nói trên. Tuy nhiên hai đại lượng này biến động theo hai tốc độ, mức tuyệt đối khác nhau. Giá cả vật tư luôn luôn biến động, biến động không ngừng theo chiều tăng liên tục; Trái lại, sáu yếu tố giảm lại là một số hữu hạn, giảm đến một mức độ nào đó thì dừng lại. Giá xi  măng chỉ giữ ổn định khi hai sự biến động này có mức phù hợp, tức là còn bù, trừ cho nhau và có một khoản chênh (l•i); còn các yếu tố đầu  vào tăng liên tục, với tốc độ và mức nhanh hơn, cần phải điều chỉnh theo hai hướng: Hướng thứ nhất: nếu giữ giá ở mức cũ thì lợi nhuận phải giảm đi, phần nộp ngân sách, phần để lại cho doanh nghiệp tái đầu tư phát triển cũng giảm theo; hướng thứ hai: để ổn định lợi nhuận, ổn định phần nộp ngân sách, ổn định các quỹ của doanh nghiệp... thì phải điều chỉnh lại giá cho phù hợp. Hiện nay giá xi  măng đang ở thế cân bằng nghiêng về hướng các đại lượng tăng giá cao hơn các nhân tố giảm giá thành: đại lượng tăng bằng và lớn hơn đại lượng giảm trong giá. Trong cơ chế kinh tế thị trường, việc điều chỉnh giá cả (tăng, giảm) là bình thường, là khách quan có tính quy luật, miễn sao sự tăng (hoặc giảm) nằm trong sự kiểm soát của người quản lý, của Nhà nước, phù hợp với sức mua của đồng tiền.

Thứ tư là, Tổ chức hệ thống phân phối lưu thông xi  măng hợp lý, bảo đảm lợi ích cho nhà sản xuất, lưu thông, tiêu dùng.
Hiện nay Tổng công ty có hệ thống tổ chức phân phối lưu thông đa dạng, hợp lý, từng bước xã hội hoá khâu phân phối lưu thông xi  măng. ở những thị trường trọng điểm như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng... Tổng công ty giao trách nhiệm chính quản lý thị phần cho từng công ty, hoạt động trên địa bàn của mình. Các thị phần còn lại có sự đan xen giữa các công ty phối hợp. Ngoài hai lực lượng phân công trên, Tổng công ty còn có lực lượng cơ động xử lý tức thời, bổ sung cho những trọng điểm đang có nhu cầu lớn. Mô hình nhà phân phối đang được khai thác tối đa cả về năng lực, trách nhiệm cũng như lợi ích. Xuất hiện mô hình này là bước giải phóng tất cả các chi nhánh, lực lượng trung gian hình thành quá lâu từ thời kỳ bao cấp, đưa thành phần này trở lại dây chuyền sản xuất công nghiệp, tạo cho năng suất trong kinh doanh cao hơn. Tuy nhiên  mô hình này cũng còn bộc lộ mặt hạn chế là: quản lý hàng hoá, thị phần, giá cả, vận tải, trước và sau khi đến tay người tiêu dùng còn thiếu phân định trách nhiệm, đặc biệt khi thị trường có dấu hiệu không bình thường, thiếu gắn bó giữa nhà sản xuất (trực tiếp làm lưu thông) với người tiêu dùng cụ thể, làm hạn chế thông tin ngược trở lại từ người tiêu dùng, từ thị trường.

Thứ năm là, sự hoạt động phối hợp của Tổ điều hành thị trường của Chính phủ với Tổng công ty được tổ chức định kỳ chung trong toàn quốc và ở từng miền cụ thể được duy trì thường xuyên. Trong các kỳ họp này, ở những địa bàn cụ thể có  mời tất cả các thành phần sản xuất kinh doanh xi  măng của trung ương, địa phương, liên doanh, các nhà nhập khẩu, các nhà phân phối, một số hộ tiêu dùng lớn; đặc biệt sự có mặt của các cơ quan hải quan, công an, thị trường... cùng phối hợp thực hiện. Kết quả các cuộc họp đều có thông báo đánh giá, phân tích, rút kinh nghiệm, các giải pháp tiếp được thông báo, do đó hiệu quả từ các cuộc họp quản lý phối hợp thị trường có tác dụng thiết thực.

Các giải pháp của những tháng cuối năm 2004:
Khai thác tối đa những kết quả rút ra từ các bài học nêu trên: mặt nào ưu điểm nhân rộng phát huy, mặt nào cần bổ sung hoàn thiện, mặt nào cần kiên quyết khắc phục;  Các cơ quan điều hành thị trường Chính phủ được thành lập theo công văn số 2605/VPCP-KTTH ngày 24/5/2003 cần thay mặt cho Cơ quan các Bộ, ngành chuyên môn phản ánh, kiến nghị và xử lý kịp thời các đề suất của Hội nghị chuyên ngành, phải rút kinh nghiệm từ việc điều chỉnh thuế một số mặt hàng như thép... vừa qua là quá chậm. Dự báo giá phôi thép sẽ tăng từ 10/2003 kiến nghị giảm thuế từ 1/2004, mãi đến 1/3/2004 mới thực hiện, hay kiến nghị giảm thuế nhập clinker trong khối ASEAN từ 20% xuống 10%, các nước ngoài ASEAN từ 40% xuống 25%... đến nay vẫn chưa giải quyết, chỉ riêng mặt hàng sắt thép, giảm thuế nhập xuống còn 0%,   bù giá xây dựng cơ bản, do giá tăng, Nhà nước chi ra hàng ngàn tỷ đồng; mặt hàng xăng dầu bù lỗ do giá nhập tăng, và giảm thu do giảm thuế nhập khẩu xăng cũng hàng ngàn tỷ đồng. Qua đây cũng nên phân rõ trách nhiệm: phần trách nhiệm nào thuộc quản lý vĩ mô, phần trách nhiệm nào phụ thuộc quản lý vi mô; Giải pháp cơ bản và lâu dài vẫn là soát xét lại quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xi  măng đến 2010 có tính đến 2020, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng các dự án, sớm đưa các công trình vào hoạt động sản xuất kinh doanh; cần có quy chế ràng buộc khi giao chủ đầu tư. Dự án xi  măng lò quay là dự án nhóm A, thời gian thi công dài, vốn đầu tư lớn, kỹ thuật công nghệ phức tạp... chủ đầu tư phải là đơn vị có kinh nghiệm, trình độ có năng lực về tài chính, là người chịu trách nhiệm về vận hành quản lý, hiệu quả kinh tế khi đưa công trình vào hoạt động, tự chịu trách nhiệm hoàn trả vốn vay... Do đó, đề nghị Chính phủ chỉ cho phép đơn vị nào có đủ điều kiện trên mới giao trách nhiệm chủ đầu tư;  Bộ Tài chính, Bộ Thương mại, Bộ Xây dựng nghiên cứu sửa đổi thông tư liên tịch số 03/1999/TTLT-BVGCP-BTM-BXD ngày 19/4/1999 về cơ chế kinh doanh và quản lý giá xi  măng, quyết định số 104/1999/QĐ-BVGCP ngày 3/12/1999 ban hành giá giới hạn tối đa cho một số thị trường chính phù hợp với Pháp lệnh giá, Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá; Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, chia đều trách nhiệm trong bình ổn giá cả thị trường xi  măng cho tất cả các thành phần sản xuất kinh doanh xi  măng trong cả nước như điều 6 Nghị định số 170/2003/NĐ- CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ. Nội dung điều này quy định rất rõ: cho các Bộ quản lý Nhà nước, quản lý ngành, uỷ ban nhân dân, tổ chức, cá nhân có sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ thuộc danh mục thực hiện bình ổn giá cả.

Hiện nay trên cả nước có ba thành phần chính sản xuất kinh doanh xi  măng: Tổng công ty xi  măng Việt Nam chiến 48-50%, các liên doanh 30%, các xi  măng lò đứng, các trạm nghiền của địa phương và ngành là 20%... trên thị trường chung của cả nước. Các thành phần sản xuất kinh doanh này phải được hợp tác chặt chẽ, cùng chia sẻ trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi, không nên chỉ để một thành phần là Tổng công ty xi  măng Việt Nam đứng ra đảm nhiệm trọng trách bình ổn thị trường và giá cả trong khi sản lượng sản xuất và thị phần xi  măng chỉ chiếm 48% đến 50%.  Bởi vì làm công cụ điều tiết vĩ mô, bình ổn thị trường cả nước có nghĩa là phải có một lượng hàng hoá dự trữ, phải có một lượng vốn lớn, vốn không sinh lời, phải giữ giá ổn định khi giá đầu vào liên tục tăng, các dư địa phấn đấu giảm giá không còn... nếu để một mình Tổng công ty xi  măng Việt Nam chịu quả là quá thiệt thòi về kinh tế và không công bằng trên cùng sân chơi. Về điểm này chúng tôi tán thành quan điểm của Tiến sỹ Nguyễn Văn Thiện - Chủ tịch Hiệp hội xi  măng Việt Nam, khi ông đề cập "Nếu cứ tiếp tục duy trì cách làm này thì đến một thời điểm nào đó, năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Xi  măng sẽ suy yếu và không còn đủ tiềm lực để thực hiện nhiệm vụ bình ổn thị trường. Trong khi đó 50% sản lượng và thị phần còn lại là sản lượng sản xuất và thị phần của các doanh nghiệp khác lại không bị ràng buộc trách nhiệm bình ổn thị trường. Như vậy là không hợp lý và không công bằng giữa các doanh nghiệp cùng tham gia trên một sân chơi của thị trường xi  măng nội địa"; Từ kinh nghiệm của chính mình, rút kinh nghiệm qua diễn biến các mặt hàng hoá vật tư: thép, xăng dầu, thuốc chữa bệnh,... các công ty sản xuất kinh doanh xi  măng rà soát lại cơ chế quản lý kinh doanh, mô hình tổ chức kinh doanh, phương pháp điều hành kinh doanh, tăng cường việc kiểm soát chặt chẽ hệ thống đại lý phân phối xi  măng của mình.

Từ thực tế điều hành thị trường xi  măng thời gian qua, rút kinh nghiệm các mặt hàng khác thị trường những tháng đầu năm 2004, dưới sự chỉ đạo của tổ điều hành thị trường Chính phủ ( ngày 25/3/2003), thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 13/2004 CT-TTg ngày 31/3/2004 cuủa Thủ tướng Chính phủ về việc " Thực hiện một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển mạnh thị trường nội địa, quyết tâm cao của ngành công nghiệp xi  măng", thị trường xi  măng những tháng cuối của năm 2004 sẽ ổn định và góp phần cùng với các mặt hàng khác của nền kinh tế tạo nên thành tựu chung./.

Nguồn: Bài viết: Tiến sỹ Phạm Thanh Hải P.TGĐ


  • Gửi mail cho bạn bè
  •     
  • In trang này ra giấy
  •     
  • Đưa ra file pdf
  •     
Các tin khác: