Giới thiệu
Các đơn vị sản xuất xi măng
 
TIỆN ÍCH
# Email # Hướng dẫn sử dụng
# Hỏi đáp # Ites
# Văn bản pháp quy Liên hệ
Tư liệu phim
 
Xem tiếp »
Tư liệu ảnh
  • #
  • #
  • #
  • #
 
Xem tiếp »
 
Chiến lược phát triển

Định hướng đầu tư phát triển

Dự báo nhu cầu xi măng tới năm 2020 (trích Quyết định số 108/2005/QĐ-TTg ngày 16/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt qui hoạch điều chỉnh phát triển công nghiệp xi măng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020).
 

Năm

Mức dao động

Mức trung bình

2005

27,5 - 30,5

29

2010

42,2 - 51,4

46,8

2015

59,5 - 65,6

62,5

2020

68 - 70

Theo định hướng thị phần xi măng do Tổng công ty xi măng sản xuất chiếm khoảng 45% thị phần xi măng trong nước (chưa tính phần góp vốn vào các công ty liên doanh với các đối tác đầu tư nước ngoài)

Mục tiêu phát triển

Căn cứ dự báo chiến lược phát triển, ngay từ năm 2000, Tổng công ty xi măng đã xác định rõ mục tiêu phát triển ngành. 

Về sản phẩm xi măng:

+ Tiếp tục cải tạo mở rộng, nâng công suất các cơ sở hiện có; tiếp tục đầu tư xây dựng một số dự án có công suất lớn, đảm bảo từ năm 2005 tất cả các nhà máy xi măng trong Tổng công ty đều có công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, công suất cao, đáp ứng cao về bảo vệ môi trường.
+ Đầu tư thêm một số trạm nghiền clinker, tiếp nhận và phân phối xi măng dọc theo bờ biển ở khu vực Miền Trung và Miền Nam.
+ Đa dạng hoá chủng loại xi măng.
Đảm bảo thị phần xi măng của Tổng công ty giữ ở mức tối thiểu là 45%.
+ Sản xuất phổ biến xi măng mác PCB 30, PCB 40.

Về cơ khí:

+ Tận dụng tối đa năng lực thiết bị cơ khí hiện có của các công ty xi măng, của các công ty cơ khí gia nhập Tổng công ty; kết hợp đầu tư chiều sâu, đổi mới thiết bị để đảm bảo cung cấp phụ tùng thay thế sửa chữa cho ngành công nghiệp xi măng và VLXD, máy xây dựng ... từng bước thay thế nhập khẩu; phối hợp liên kết với các đơn vị ngoài Tổng công ty để tiến tới có thể tự chế tạo thiết bị dây chuyền sản xuất xi măng VLXD để thay thế nhập khẩu.

Về sản xuất vật liệu xây dựng:

+ Tập trung vào việc phát huy năng lực các cơ sở hiện có đặc biệt là sản phẩm vật liệu chịu lửa và một số chủng loại sản phẩm VLXD mới theo chiến lược phát triển ngành VLXD đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Về lĩnh vực dịch vụ, phục vụ:

+ Tập trung đầu tư để phát triển các hoạt động khoa học kỹ thuật công nghệ, hoạt động tư vấn thiết kế....từng bước tiến tới tự thiết kế các dây chuyền sản xuất xi măng.
+ Trên cơ sở các cơ sở đào tạo hiện có, tăng cường đầu tư và hợp tác với các trường đào tạo trong nước để đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho yêu cầu phát triển của Tổng công ty và đào tạo cho nhu cầu của các đơn vị bên ngoài.

Về đầu tư tài chính
+ Triển khai cổ phần tài chính xi măng, qua đó từng bước tham gia thị trường vốn và thị trường tiền tệ nhằm huy động vốn đáp ứng cho yêu cầu đầu tư phát triển của Tổng công ty
.

Quan điểm phát triển 

Về đầu tư:
+ Các dự án đầu tư mới phải đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội, sản phẩm có sức cạnh tranh cao trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới; sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái, di tích lịch sử văn hoá, cảnh quan và an ninh quốc phòng, thuận lợi về giao thông, nhất là giao thông đường thuỷ.

Về công nghệ:
+ Sử dụng công nghệ tiên tiến của thế giới, tự động hoá ở mức cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm tối đa nguyên liệu, nhiên liệu, điện năng; tận dụng tối đa năng lực của ngành cơ khí trong nước để phát triển nội lực, giảm nhập khẩu, đa dạng hoá sản phẩm xi măng; đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường theo tiêu chuẩn Việt nam và quốc tế.

Về nguồn vốn:
+ Huy động tối đa các nguồn vốn trong nước để đầu tư. Đa dạng hoá phương thức huy động vốn, kể cả hình thức đầu tư để các thành phần kinh tế cùng tham gia đầu tư sản xuất xi măng. Tập trung triển khai thực hiện cổ phần hoá để có nguồn vốn đầu tư các dự án mới.
Đối với những dự án đã liên doanh với nước ngoài đang sản xuất, nếu mở rộng đầu tư phải tăng vốn pháp định của Tổng công ty đạt tỷ lệ từ 50% trở lên.

Về đa dạng hoá ngành nghề và phối hợp liên ngành:
+ Ngoài xi măng, lĩnh vực hoạt động của Tổng công ty còn bao gồm sản xuất kinh doanh bê tông tươi, các loại VLXD, các sản phẩm cơ khí (kết cấu thép và máy móc thiết bị), thiết kế và thi công xây dựng các công trình xi măng và các công trình công nghiệp khác.
+ Tăng cường quan hệ liên doanh liên kết với các tập đoàn mạnh trên thế giới để đầu tư phát triển và chuyển giao công nghệ về các lĩnh vực sản xuất xi măng VLXD và cơ khí nhằm vươn ra thị trường thế giới.
+ Tăng cường sự liên kết, phối hợp với các ngành, các lĩnh vực liên quan như: cơ khí, giao thông vận tải, cung ứng vật tư kỹ thuật, xây lắp các trường đại học, viện nghiên cứu... để đáp ứng tốt nhất cho phát triển ngành công nghiệp xi măng. Phấn đấu trước mắt đảm bảo phần sử dụng hàng hoá, thiết bị gia công chế tạo trong nước đối với các dự án xi măng đạt tối thiểu 60% trọng lượng và 25-30% giá trị. Tạo sự gắn kết chặt chẽ với các trung tâm nghiên cứu khoa học công nghệ trong cả nước để tăng cường và phát huy nội lực, đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng ngay vào sản xuất...

Kế hoạch đầu tư phát triển giai đoạn 2005 - 2008.

Giai đoạn này đang thực hiện đầu tư, chuẩn bị và thực hiện đầu tư một số dây chuyền mới, 2 trạm tiếp nhận phân phối xi măng và cải tạo nâng công suất một số dây chuyền hiện có, cụ thể là:

+ Đưa dây chuyền xi măng Hải Phòng (mới) 1,4 triệu tấn/năm vào hoạt động

+ Đầu tư dây chuyền xi măng Hoàng Thạch 3 (1,4 triệu tấn/năm), dây chuyền 2 xi măng Bút Sơn (1,4 triệu tấn/năm); Nhà máy xi măng Bình Phước (2,0 triệu tấn/năm); dây chuyền xi măng trắng Hải Phòng 200.000 tấn/năm; dây chuyền 2 xi măng Bỉm Sơn (2,0 triệu tấn/năm); dây chuyền 2 nhà máy xi măng Hà Tiên 2 (1,4 triệu tấn/năm).

+ Chuẩn bị cho dự án: Liên doanh với tổng công ty Holcim (Thụy Sĩ) đầu tư xây dựng dự án xi măng Thạnh Mĩ (Quảng Nam) 2 triệu tấn clinker/năm.

+ Đầu tư mới nhà máy nghiền clinker và tiếp nhận xi măng rời tại TP HCM (giai đoạn một 1.000.000 tấn/năm), Nha Trang (500.000 tấn/năm), Long An (500.000 tấn/năm).

+ Liên doanh đầu tư đội tàu vận tải xi măng rời Bắc - Nam, liên doanh đầu tư hoặc hợp tác để chế tạo phụ tùng cơ khí sửa chữa trong nước.

+ Góp vốn liên doanh đầu tư dây chuyền 2 xi măng ChinFon 2,2 triệu tấn /năm và dây chuyền 2 xi măng Nghi sơn 2,2 triệu tấn/năm.

Như vậy vào năm 2005 - 2008 năng lực sản xuất của Tổng công ty sẽ có thêm 9,6 triệu tấn xi măng đen; 200.000 tấn xi măng trắng và 1,5 triệu tấn công suất nghiền - đóng bao.

Tổng sản lượng xi măng của Tổng công ty sẽ đạt khoảng 20 triệu tấn và tham gia qua 3 công ty liên doanh 5,36 triệu tấn (hiện tại) và gần 9 triệu tấn /năm (2008).
 

Đầu tư tăng năng lực chế tạo cho các công ty cơ khí:

 Xuất phát từ tình hình đầu tư các dự án xi măng trong giai đoạn 2001 - 2005, nhiều doanh nghiệp và địa phương đã tham gia triển khai một số dự án đầu tư các nhà máy xi măng lò quay có công suất lớn, và tình hình thị trường xi măng trong khu vực và dự báo cung cầu đến năm 2010, ngay từ năm 2005 Tổng công ty đã tính toán chuẩn bị cho kế hoạch giai đoạn 2005 - 2010 với một số nội dung sau:

 + Tiếp tục hoàn thiện để giảm định mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu và phát huy và cải tạo nâng công suất các dây chuyền được đưa vào sản xuất trong thời kỳ 2005 - 2006 để giảm giá thành, nâng cao năng lực cạnh tranh.

+ Đẩy mạnh tiến độ đầu tư dự án liên doanh xi măng Thạnh Mỹ (Quảng Nam.

+ Cải tạo hoặc đầu tư mới dây chuyền sản xuất một số chủng loại xi măng đặc biệt như: xi măng bền sunfát, xi măng đóng rắn nhanh, xi măng ít toả nhiệt, xi măng giếng khoan, xi măng dãn nở...xi măng trắng.

+ Liên doanh đầu tư các nhà máy cơ khí với công nghệ tiên tiến thiết bị hiện đại và một số nhà máy sản xuất VLXD khác…


Các biện pháp thực hiện

 

+ Tiếp tục đầu tư xây dựng mới và đổi mới công nghệ để duy trì và phát triển, nâng cao chất lượng, mẫu mã, số lượng mặt hàng xi măng là sản phẩm chính của Tổng công ty xi măng, đồng thời phát triển một số mặt hàng dịch vụ như: vận tải, khai thác phụ gia, kinh doanh vật tư, xuất nhập khẩu... nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường.

+ Tập trung nghiên cứu để đầu tư và hợp tác đầu tư sản xuất các mặt hàng VLXD mới phù hợp với qui hoạch, chiến lược phát triển VLXD đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

+ Tận dụng năng lực thiết bị cơ khí hiện có của các nhà máy xi măng trong Tổng công ty và các đơn vị liên doanh liên kết với Tổng công ty, tăng cường sự phối hợp và hợp tác để gia công, chế tạo vật tư phụ tùng phục vụ cho ngành sản xuất xi măng và VLXD. 

+ Đến cuối năm 2005 tất cả các nhà máy xi măng của Tổng công ty đều có công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm tối đa nguyên liệu, nhiên liệu, điện năng; bảo vệ môi trường theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế; đa dạng hoá sản phẩm xi măng, phổ cập sản xuất xi măng mác PCB 30, PCB 40 chất lượng cao, đồng thời huy động tối đa công suất của các nhà máy hiện có để đáp ứng nhu cầu xi măng của thị trường; Tiếp tục đầu tư mở rộng nâng cao năng lực sản xuất số dây chuyền hiện có và các dây chuyền mới theo qui hoạch phát triển công nghiệp xây dựng xi măng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

+ Đầu tư chiều sâu các cơ sở cơ khí hiện có với thiết bị và công nghệ hiện đại đảm bảo cung cấp phụ tùng thay thế sửa chữa cho ngành công nghiệp xi măng và VLXD, từng bước thay thế nhập khẩu; hợp tác với các đơn bị trong nước tiến tới có thể tự chế tạo dây chuyền sản xuất xi măng có kết hợp với một phần nhập ngoại. 

+ Thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển ngành xi măng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Tổng công ty phải tổ chức sản xuất và tiêu thụ xi măng một cách hợp lý, dần phù hợp với tổ chức sản xuất - tiêu thụ của các nước trong khu vực, đặc biệt là hệ thống tiêu thụ xi măng, ứng dụng các công nghệ thông tin hiện đại vào quá trình tiêu thụ sản phẩm để nâng cao hiệu quả kinh doanh, để sản phẩm xi măng của Tổng công ty đủ khả năng cạnh tranh với các loại xi măng khác, nhằm giữ vững và mở rộng thị phần trọng tâm là trong nước và phấn đấu đưa dần xi măng xuất khẩu.

+ Nghiên cứu phát triển sản phẩm xi măng với thương hiệu đã có uy tín cao trên thị trường.

Chiến lược đầu tư - tài chính

Để đáp ứng được nhu cầu phát triển và thực hiện các biện pháp chiến lược, Tổng công ty cần phải xây dựng một cơ chế tài chính hợp lý và sử dụng cơ chế tài chính như một công cụ điều hành của Tổng công ty. Trên cơ sở các nguồn tài chính, cần phải có chính sách tài chính đảm bảo cân đối cho hoạt động và dự phòng các trường hợp rủi ro tác động từ bên ngoài (như khủng hoảng tài chính thế giới và khu vực, trượt giá ngoại tệ...) tập trung vào những vấn đề sau: 

+ Tăng cường tiềm lực và sự tích tụ tập trung từ các hoạt động kinh doanh của Tổng công ty thông qua việc tập trung các nguồn quĩ tập trung như, khấu hao cơ bản, đầu tư phát triển....lợi nhuận để đầu tư vốn cho các dự án đầu tư.

+ Cải thiện cơ cấu tài chính: xử lý vật tư tồn kho ứ đọng, công nợ....một cách kiên quyết để phát huy nguồn vốn và liên doanh đầu tư, chuyển giao công nghệ.

+ Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp.

+ Triển khai thành lập Ngân hàng cổ phần xi măng để làm công cụ điều tiết các mối quan hệ tài chính trong Tổng công ty, tập trung các tài khoản ngân hàng và huy động các nguồn vốn nhàn rỗi với lãi suất thấp để hỗ trợ các công ty con.

+ Thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước bằng việc thúc đẩy hoạt động tài chính, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, từng bước phát hành cổ phiếu có hạn mức tối đa để đảm bảo sự điều tiết của Nhà nước. Khuyến khích các thành phần kinh tế trong nước tham gia đầu tư vào các hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty. Tranh thủ sự đầu tư, đàm phán các điều kiện vay vốn tốt nhất với các ngân hàng trong các khoản vay trung hạn và dài hạn.

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực.

Để đảm bảo sự phát triển bền vững của Tổng công ty, nhân tố con người là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu. Vì vậy cần tiếp tục đổi mới phương thức đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng nhằm sớm có được một đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế, quản lý kỹ thuật đủ mạnh, năng động, sáng tạo đồng thời có đạo đức, phẩm chất cách mạng, có bản lĩnh kinh doanh trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN làm chủ công nghệ hiện đại, tiếp thu được công nghệ sản xuất tiên tiến; xây dựng được đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề nhằm không ngừng nâng cao năng suất lao động, hiệu quả kinh doanh để hội nhập với khu vực và thế giới. 

Chiến lược thị trường - cạnh tranh.

 

Chiến lược đầu tư - công nghệ.

 

Chiến lược sản phẩm.

 

Kế hoạch đầu tư phát triển giai đoạn 2008 - 2010 và các năm tiếp theo

Thông tin giới thiệu khác: